Cây nhỡ hay cây gỗ nhỏ, cao 2 - 11m; các cành non có lông sớm rụng, màu xám nhạt. Lá có phiến bầu dục, hình trứng ngược hay có khi hình mũi mác, dài 6 - 15cm, rộng 2 - 6,5cm, đầu tù, gốc nhọn, mép có răng thưa ở 1/2 trên, gân bên 5 - 7 đôi, cuống dài 0,5 - 1cm, ít lông. Hoa đơn tính khác gốc. Bông đực dài 1,5 - 2cm ; nhị 3. Hoa cái thành bông ngắn hay xim ở nách; bầu có lông, vòi nhụy 2. Quả nang xoan, cao tới 13mm, rộng 8mm, màu nâu; hạt 1 - 2, dài 8 - 9mm.
Ra hoa kết quả nhiều, tái sinh khỏe. Mùa hoa tháng 3 - 4, kéo dài đến tháng 7; mùa quả tháng 5 - 6 trở đi. Cây mọc trong các trảng cây bụi, truông, rú thứ sinh, rừng mưa mùa trạng thái thứ sinh ở độ cao 100m-600m. Cây ưa sáng, chịu hạn, chịu đất đai khô cằn, chua, ưa đất feralit. Chịu được lửa đốt do có vỏ dày. Kích thước của cây phụ thuộc vào điều kiện địa hình, đất đai.
Loài của vùng Đông Himalaia, Ấn Độ, Mianma, Nam Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippin. Ở Việt Nam, có gặp khắp nơi từ Bắc Bộ tới Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
Tại Trường Đại học Lâm nghiệp, cây mọc tự nhiên bổ biến ở Núi Luốt.
Vỏ, rễ và lá được sử dụng làm thuốc. Dân gian cũng dùng các bộ phận khác nhau của cây chữa ho lao và cầm máu vết thương.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn