Đỉnh cánh trước hơi nhọn, dài và trong một vài trường hợp cong thành hình hơi lưỡi liềm; tuy nhiên, ở con cái đỉnh tròn hơn. Gân 9 phát sinh trước đoạn cuối gân 10 và gân 10. Con đực có màu trắng tuyền ở cả hai mặt (albina có nghĩa là trắng), chỉ có một viền đen mảnh ở mép trên và chót cánh trước. Mặt trên cánh của con cái có viền đen rộng hơn nhưng có góc cánh nhọn hơn và có hai chấm màu trắng nổi bật trên nền đen của chót cánh. Bướm cái có những đường viền tối màu rõ ở măt trên và mặt dưới của cánh trước, đôi khi phần chót cánh trên có màu vàng hay màu ghi nhạt ở mặt dưới cánh trước, còn cánh sau có màu vàng cam nhạt hoặc trắng ngà với mép ngoài tối màu hơn. Sải cánh: 55 - 70mm
Rất phổ biến. Thường gặp với số lượng rất lớn vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa với vài loài khác. Tìm thấy ở ven đường hoặc bờ suối, và nơi ẩm thấp và bay nhanh. Sâu ăn lá các loài cây thuộc chi Cáp (Capparis), họ Cáp (Capparaceae) . Loài này ưa thích hoạt động trong rừng và những khu trống trải trong thảm rừng thứ sinh ở độ cao khác nhau. Chúng xuất hiện quanh năm tuy nhiên phổ biến nhất từ tháng 4 đến tháng 6. Bướm này có kiểu bay lướt nhanh. Kiểu bay hàng loạt theo một hướng vào mùa xuân là một trong những đặc điểm của loài này. Bướm cải đẻ trứng trên cây Cáp ( họ Màn màn) và chi Sắng đắng ( họ Thầu dầu - Euphorbiaceae).
Phân bố tại khu vực nghiên cứu: Rất dễ gặp. Chúng thường cư trú ở nơi ẩm thấp và bay rất thấp. Qua tuyến điều tra đã bắt gặp được nhiều cá thể tại sinh 2 bên đường lên giảng đường, lên ngã tư thứ nhất. Đặc điểm phân bố trên thế giới: Phân bố từ Nê-pan, Ấn Độ và Đông Sri-lan-ca đến Đài Loan và Nam Nhật Bản; phía Nam qua Đông Dương đến San-đơ-lan, Phi-lip 10 pin, Tân Ghi-nê và Bắc Ôx-trây-li-a [22]. Đây là loài phổ biến khắp Việt Nam. Tên bướm được đặt theo màu cánh.
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn