Đầu phân biệt rõ với cổ, dẹt. Không có vẩy má. Mắt nhỏ, con ngươi tròn. Vẩy thân 15 hàng, nhẵn. Sống lưng hơi gỗ, hàng vảy sống lưng rộng hơn hàng vảy bên. Đuôi nhọn. Những tấm dưới đuôi đơn. Đầu xám. Môi và họng trắng đục. Trên thân có 44-47 khoanh đen xen 45-48 khoanh trắng, khoanh đen rộng hơn khoanh trắng rất nhiều và không kín ở mặt bụng. Chiều rộng của khoanh trắng ở sống lưng xấp xỉ bằng chiều rộng của 1 tấm sống lung .
Nơi sống: Rắn cạp nia bắc sống trong các hang hốc khô ráo ngoài tự nhiên, ở bờ các vực nước, trên các gò đống trong các dạng sinh cảnh mở ở vùng đồng bằng, trung du và miền núi .
\rThức ăn: Rắn, ếch nhái, thú nhỏ và cả cá, lươn .
\rSinh sản: Đẻ từ 3-20 trứng vào cuối mùa xuân và đầu mùa hè.
Việt Nam: Cao Bằng (Nguyên Bình), Bắc Kạn (Ngân Sơn, Chợ Đồn), Lạng Sơn (Mẫu Sơn, Hữu Lũng), Hải Phòng (Cát Bà), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Bắc Giang (Sơn Động), Hải Dương (Chí Linh), Hải Phòng (Cát Bà), Hà Nội, Sơn La (Cà Nang, Hua Trai, Cò Mạ, Mường Do, Sốp Cộp, Xuân Nha), Hoà Bình (Thượng Tiến), Thanh Hoá (Bến En), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh), Quảng Bình (Lệ Thủy), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã) .
\rThế giới: Nam Trung Quốc, Đài Loan, Myanma, Lào và Thái Lan. Quần thể ở Thái Lan được một số tác giả định danh là loài Bungarus wanghaotingi. Tuy nhiên, do sai khác về di truyền và hình thái giữa các quần thể chưa thực sự rõ ràng nên tạm thời vẫn sử dụng tên loài là Bungarus multicinctus .
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn