Môi vàng nâu, đôi khi xám nhạt. Mặt lưng ở phía trước cơ thể xám xanh rất nhạt, về cuối thân chuyển mầu nâu nhạt. Tấm viền đen, càng về cuối thân càng rõ, ở cuối tấm có một chấm đen. Bụng vàng nhạt, rõ nhất ở phần trước thân . Tấm mõm: chiều rộng hơn chiều cao một ít; 2 tấm gian mũi ngắn hơn 2 tấm trước trán. Tấm trán dài bằng hay hơn một ít so với khoảng cách từ nó tới đầu mõm; 2 tấm đỉnh, dài bằng 2 tấm trán; 2 tấm má; 2 tấm trước mắt; 2 tấm sau mắt; 2+2 tấm thái dương. Môi trên 8 tấm, tấm thứ 4,5 tiếp giáp mắt. Môi dưới 10 (hãn hữu 9, 11) tấm, có 5 tấm tiếp giáp tấm sau cằm trước; 2 đôi tấm sau cằm mà đôi trước ngắn hơn đôi sau. Vẩy thân: 19 (17 hay 15)-15-11 hàng, nhẵn; 163-175 (bình quân 169) tấm bụng; tấm hậu môn chia hai: 126-149 (bình quân 135) tấm dưới đuôi kép .
Nơi sống: Mùa lạnh chúng sống trong hang hốc khô ráo, có khi ở ngay đám cỏ khô. Mùa nóng sống ở các bụi cây, bãi cỏ rậm rạp, có khi ở cả trên mái nhà .
\rTập tính: Rắn ráo hoạt động ban ngày tập trung vào mùa nóng, leo trèo và bơi giỏi; kiếm ăn quanh nơi sống. Ăn no rắn tìm bụi cây râm mát nghỉ đến 2 ngày (quan sát ở Tu Lý: 7-8/05/1972) .
\rThức ăn: Rắn ráo ăn các loại ếch nhái (Limnonectes limnochoris, Occidozyga lima, Mycrohyla pulchra); rắn còn ăn thú nhỏ (chuột), chim, bò sát và rắn khác .
\rSinh sản: Mùa sinh sản của Rắn ráo từ tháng 4- 7 hàng năm, đẻ từ 5–17 trứng (theo Đinh Thị Phương Anh, 1994) . Trong điều kiện nuôi đẻ ở Đà Nẵng rắn đẻ 2–6 trứng, kích cỡ bình quân 35,9 + 18,3mm, nặng 9,1gram, sau 56-58 ngày thì trứng nở .
Việt Nam: Rắn ráo phân bố khắp toàn quốc, kể cả các đảo .
\rThế giới: Ấn Độ, Bangladesh, Trung Quốc, Taiwan, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Singapo và Indonesia .
Luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn